Chào mừng quý vị đến với Website Địa Lí của Lâm Mã Quốc Dũng.
Lịch blog
Việt Nam đất nước con người
Lạc Dương
Huyện Lạc Dương nằm trên cao nguyên Lang Bian ở phía đông bắc tỉnh Lâm Đồng.
Với tổng diện tích đất tự nhiên: 1.513,8km2, Lạc Dương phía đông giáp huyện Khánh Sơn và huyện Khánh Vĩnh (tỉnh Khánh Hòa), huyện Ninh Sơn (tỉnh Ninh Thuận); phía bắc giáp huyện Krông Bông và huyện Lak (tỉnh Đắc Lắc); phía nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Đơn Dương; phía tây giáp huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng).
*
Năm 1899, vùng Lạc Dương hiện nay thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng. Đến năm 1920, làng mạc và đất đai nằm trên cao nguyên Lang Bian thuộc thị xã Đà Lạt.
Ngày 19-5-1958, chính quyền Ngô Đình Diệm thành lập tỉnh Tuyên Đức, Lạc Dương là một trong ba quận thuộc tỉnh Tuyên Đức. Quận Lạc Dương có 3 tổng gồm 7 xã: tổng Phước Thọ gồm các xã Xuân Thọ, Phước Thành, Thái Phiên; tổng Đa Tân gồm các xã Dakao, N’Thol Thượng; tổng Nhân Lạc gồm các xã Kill Plagnol Hạ, Lat.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hệ thống hành chính mới được thiết lập. Huyện Lạc Dương được thành lập, nhưng đến tháng 11-1975, theo yêu cầu nhiệm vụ lúc đó huyện bị giải thể. Xã Kill Plagnol Hạ (nay là xã Đạ Sa, Đạ Chais), Xuân Trường, Xuân Thọ chuyển về huyện Đơn Dương; xã Lát, Đa M'rong thuộc về huyện Đức Trọng.
Ngày 14-3-1979, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 116 - CP chia một số huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng. Huyện Đơn Dương được chia thành hai huyện: Đơn Dương và Lạc Dương. Huyện Lạc Dương được thành lập trên cơ sở huyện Lạc Dương cũ, xã Xuân Thọ, Xuân Trường thuộc về thành phố Đà Lạt.
Năm 1987, một phần xã Đa M'rong (Rô Men) thuộc huyện Lạc Dương được sáp nhập vào huyện Lâm Hà.
Hiện nay, huyện Lạc Dương gồm có 7 xã: Lát, Đạ Sa, Đạ Chais, Đạ Tông, Đạ Long, Đa M'rong, Đưng K’Nớ. Huyện lỵ ở xã Lát, cách thành phố Đà Lạt 12km về phía bắc, dưới chân núi Lang Bian.
Huyện Lạc Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai tiểu vùng: tiểu vùng khí hậu bán ôn đới gồm các xã: Đạ Sa, Đạ Chais, Lát có độ cao trung bình 1.500 - 1.600m so với mặt biển; tiểu vùng khí hậu nhiệt đới gồm các xã: Đa M'rong, Đạ Tông, Đạ Long, Đưng K’Nớ có độ cao trung bình 500 – 600m.
Lượng mưa bình quân hàng năm 1.800mm và tập trung vào các tháng 7, 8, 9 (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm). Nhiệt độ bình quân hàng năm là 19,5oC. Tổng giờ nắng trong năm là 2.335 giờ, bình quân 6,4 giờ/ngày. Lạc Dương chịu ảnh hưởng của các hướng gió chính là đông bắc và tây nam với tốc độ gió bình quân 2,1 - 3m/s.
Cao nguyên Lang Bian được cấu tạo chủ yếu bằng đá macma axit, granit, phiến thạch sét, phiến mica và đá cát kết. Các đồi đá phiến và đá cát kết lượn sóng trên bề mặt cao nguyên, sườn thoai thoải phủ một lớp phong hoá dày màu vàng đỏ.
Lạc Dương là một trong những huyện có nhiều núi cao nhất vùng Nam Tây Nguyên: Bi Đúp 2.287m, Lang Bian (Núi Bà) (2.167m), Hòn Giao (2.062m), Chư Yan Du (2.040m), Chư Yan Kao (2.006m),... Khu Bi Đúp - Núi Bà là một khu giàu tính đa dạng sinh học.
Các nhà lâm học ở Viện Nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam đã khẳng định rằng khu Bi Đúp là một mẫu rừng cổ nguyên sinh chuẩn nhất ở Tây Nguyên còn sót lại nhờ vào địa thế hiểm trở. Hệ động, thực vật ở đây rất đa dạng, phong phú.
Viện Nghiên cứu tài nguyên môi trường quốc gia đã tìm thấy 827 loài thực vật, trong đó có 65 loài đặc hữu, 70 loài quý hiếm đã bị tuyệt chủng ở các nơi khác hoặc hoá thạch nhưng vẫn còn tìm thấy sinh trưởng ở đây.
Khu Bi Đúp - Núi Bà còn là nơi quần tụ của 2/3 loài thông hiện diện ở Việt Nam, trong đó có thông 2 lá dẹt, thông 5 lá, thông tre và đặc biệt là loài thông đỏ chữa được bệnh ung thư, hàng chục loài lan đặc hữu.
Nhiều loài thực vật được phát hiện lần đầu ở khu Bi Đúp - Núi Bà và mang tên Lang Bian hay Bi Đúp: Dendrobium langbianense, Oberonia langbianensis, Elaeocarpus bidupensis, Vanda bidupensis,...
Ở Bi Đúp - Núi Bà cũng phát hiện nhiều cây dược liệu có giá trị hàng hoá như: cẩu tích, đản sâm, củ cung, sa nhân, tô hạp, hương nhu xạ, bạch linh, sâm Ngọc Linh,... Các nhà nghiên cứu động vật đã thống kê được 27 loài động vật quý hiếm, 9 loài chim đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu.
Gần núi Chư Yan Kao và Bi Đúp là nơi bắt nguồn của các dòng sông Đa Dâng, Đa Nhim cung cấp nước cho hai công trình thuỷ điện lớn của đất nước: Trị An, Đa Nhim.
Hồ Đan Kia - Suối Vàng trên sông Đa Dâng, chứa khoảng 21 triệu m3 nước, cung cấp nước cho nhà máy thuỷ điện Ankroet với công suất 3.100kW và nhà máy nước Suối Vàng, do Đan Mạch tài trợ, chuyển nước về thành phố Đà Lạt. Dự án Đà Lạt - Đan Kia xây dựng một thành phố mới ven bờ hồ Đan Kia - Suối Vàng đã được Chính phủ phê duyệt với tổng vốn đầu tư hơn 700 triệu USD.
Núi cao hùng vĩ, những khu rừng đặc dụng, rừng nguyên sinh, hồ Đan Kia - Suối Vàng, núi Lang Bian tạo nên những cảnh đẹp kỳ vĩ, nên thơ, hứa hẹn nhiều tiềm năng du lịch hấp dẫn du khách.
Dân số Lạc Dương năm 1999 là 24.511 người. Thành phần dân tộc thiểu số chiếm 95% dân số toàn huyện, bao gồm các dân tộc chính như: Chil, Lạch, Cơ Ho, M’Nông,... Cư dân sống rải rác, phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu tại khu vực trung tâm huyện, dọc tỉnh lộ 723 và thung lũng Đa M'rong.
*
Trước thế kỷ XX, Lạc Dương là vùng đồi núi hoang sơ, chỉ có một số ít đồng bào dân tộc ít người cư trú thành từng bon sống rải rác dọc theo bờ sông, suối. Mỗi bon chiếm cứ quản lý một khu rừng và chia từng bộ tộc hay chủ rừng để sinh sống dưới sự điều hành của một vài già làng có uy tín. Với đời sống và tập quán du canh, du cư, trình độ canh tác thấp, chủ yếu săn bắn và làm nương rẫy, sự phân công lao động vẫn mang nặng dấu ấn tự nhiên, kinh tế tự cung tự cấp nên đời sống của đồng bào còn nghèo nàn, lạc hậu, mê tín dị đoan.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy cai trị gồm bang tá, chánh tổng, sếp, phó lý, cai nhằm phục vụ cho chính sách “chia để trị”. Chúng lợi dụng tâm lý tín ngưỡng, mê tín của đồng bào các dân tộc, kích động thù hằn dân tộc, thậm chí còn áp dụng các luật tục riêng đối với từng cộng đồng người dân tộc, chia rẽ người Kinh với người dân tộc, tổ chức lực lượng vũ trang GUM phản động chống phá cách mạng.
Tiếp tục mưu đồ chia rẽ của thực dân Pháp, Mỹ - ngụy đã lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ của đồng bào dân tộc ít người do lịch sử để lại, kích động và xuyên tạc quan hệ giữa người Kinh và các dân tộc ít người, tăng cường các biện pháp kềm kẹp quân sự, dồn dân vào các khu tập trung, ấp chiến lược.
Do đặc điểm tự nhiên, Lạc Dương có một vị trí tương đối độc lập, xa các trung tâm đô thị và vùng đồng bằng, việc đi lại liên lạc, sự hỗ trợ từ bên ngoài đến rất khó khăn và nhiều hạn chế. Vì dân và cơ sở cách mạng phần lớn nằm trong vùng địch kiểm soát nên trong quá trình vận động cách mạng, trong cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở chiến trường Lạc Dương diễn ra gay go, phức tạp và đầy gian khổ, hy sinh.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng bào các dân tộc của huyện Lạc Dương đã một lòng theo Đảng làm cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Lạc Dương đã từng là căn cứ của Khu uỷ Khu VI (1961- 1962) và Tỉnh uỷ Tuyên Đức (1961- 1965); xã căn cứ đã kiên cường bám trụ và cung cấp nhiều sức người, sức của cho cách mạng.
Ngày 20-12-1994, xã Đạ Chais (xã căn cứ cũ) vinh dự được tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Kể từ năm 1981, về cơ bản, đồng bào các dân tộc của huyện Lạc Dương đã ổn định định canh định cư, hạn chế và đi đến chấm dứt hẳn tình trạng phát rừng làm nương rẫy.
Từ năm 1991 đến năm 1997, các ngành của Trung ương, của tỉnh đã đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các dự án kinh tế - xã hội tổng cộng khoảng 100 tỷ đồng. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Lạc Dương đã cố gắng tự mình vươn lên bằng ý chí và nghị lực của cộng đồng các dân tộc với mong muốn xóa đói, giảm nghèo và từng bộ phận tiến tới làm giàu chính đáng.
Đến năm 1999, đồng bào các dân tộc trong toàn huyện đã canh tác được 3.350ha cây lương thực. Tổng sản lượng lương thực đạt 8.939 tấn, về cơ bản đã trang trải được vấn đề lương thực.
Với tầng đất đỏ bazan, Lạc Dương là vùng tương đối thích hợp với các loại cây ăn trái, cây công nghiệp, đặc biệt là cây hồng, cà phê, chè.
Đến nay, toàn huyện đã trồng được 411ha cây hồng, 1.614ha cây cà phê, 449ha điều và một số diện tích chè, mía,... trong đó 171ha cây hồng, 1.123ha cà phê và 449ha điều đã cho sản phẩm.
Về chăn nuôi, bà con các dân tộc đã chăn thả 8.083 con trâu bò các loại, khả năng sinh sản của đàn trâu bò rất lớn.
Là một huyện có thế mạnh về rừng, diện tích đất có rừng là 2.436,69ha chiếm 87,43% tổng diện tích đất tự nhiên và là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn, trong đó rừng đặc dụng 61.395,38ha (chiếm 46,4%); rừng phòng hộ đầu nguồn 71.041,31ha (chiếm 53,6%).
Rừng Lạc Dương có trữ lượng gỗ rất lớn, nhiều chủng loại. Đây cũng là nơi có nhiều động, thực vật quý hiếm, nhiều cánh đồng cỏ rộng lớn, thuận lợi cho việc chăn nuôi đại gia súc.
Lạc Dương còn là vùng đất tiềm ẩn nhiều loại khoáng sản: thiếc, vàng,... và đặc biệt có nguồn nước khoáng ở suối nước nóng Đạ Long.
Lạc Dương là một trong những huyện có tỷ lệ dân cư có đạo cao, chủ yếu theo đạo Phật, Thiên chúa,Tin lành,...
Trước năm 1975, kẻ địch đã lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sau ngày hòa bình lập lại, một số thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng tôn giáo hoạt động chống lại chính quyền. Bên cạnh đó, tổ chức FULRO nổi lên chống phá cách mạng. Với chính sách mềm dẻo và kiên quyết, đến năm 1987, Lạc Dương đã cơ bản giải quyết vấn đề FULRO. Đại đa số đồng bào theo đạo Thiên chúa, Tin lành, trên tinh thần “kính Chúa, yêu nước”, đã cùng với đồng bào các tôn giáo khác hòa nhập vào sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, cùng nhau xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Hệ thống trường học, trạm y tế đã phát triển đến tận các thôn buôn. Tất cả các xã đã có trường học, trạm y tế, các phân trường, các phân trạm y tế.
Toàn huyện có 7.139 học sinh (kể cả hệ mầm non 1.455 em) và mộït trường dân tộc nội trú với gần 200 học sinh là nơi đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận và lâu dài cho huyện.
Hệ thống trạm phát lại truyền hình đã phủ sóng trên 80%, hệ thống phát thanh đã phủ sóng trên 90%.
Một tập quán lâu đời của bà con dân tộc bản địa là phát rừng làm rẫy nay cơ bản không còn tồn tại. Đồng bào đã định canh, định cư gắn với kinh tế vườn hộ, gắn với cây lúa nước để giải quyết cái ăn, từng bước làm giàu chính đáng.
Lạc Dương có 7 xã nhưng 6/7 xã thuộc diện trọng điểm đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 135/TTg của Thủ tướng Chính phủ; xã gần huyện lỵ nhất cũng 12 km, xã xa nhất gần 100km. Đường giao thông đi lại vô cùng khó khăn. Tất cả các xã đều có đường giao thông đến tận nơi, tuy nhiên chỉ là đường tạm lưu thông vào mùa khô. Trên địa bàn huyện có 2 tỉnh lộ 722 và 723 dẫn đến các xã với tổng chiều dài gần 180 km, nhưng là đường tạm, chỉ thông xe được vào mùa khô, mùa mưa hoàn toàn tắc hẳn.
Hệ thống lưới điện thắp sáng và phục vụ sản xuất chỉ có 1/7 xã nhưng tập trung chủ yếu ở trung tâm xã Lát. Điện thoại quốc gia đã đến được 6/7 xã nhưng chỉ thông suốt ở xã Lát, còn ở 5 xã: Đạ Sa, Đạ Chais, Đạ Long, Đạ Tông, Đa M'rong, mỗi xã chỉ có 1 máy điện thoại, trong đó 3 xã: Đạ Tông, Đạ Long, Đa M'rong, do địa hình phức tạp, hiểm trở nên phải thực hiện bằng hệ thống VINASAT, liên lạc qua vệ tinh. Bởi vậy liên lạc thường bị tắc nghẽn mạch, rất khó khăn cho việc nắm bắt thông tin, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành.
Trong lịch sử đấu tranh cải tạo thiên nhiên và chống ngoại xâm, đồng bào các dân tộc ở Lạc Dương luôn luôn phát huy tinh thần cần cù, sáng tạo và đóng góp tích cực cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng quê hương giàu đẹp.Lâm Mã Quốc Dũng @ 20:30 25/03/2009
Số lượt xem: 1853












Các ý kiến mới nhất